
Trần Nghiêu đích thân ra sảnh ngoài Văn Thù Phường tiếp đón Lâm Tiện.
Hai người vệ sĩ đi theo cô không theo cùng mà đứng bên ngoài cửa lớn.
Sảnh ngoài của Văn Thù Phường vô cùng thanh tĩnh và nhã nhặn, những tia sáng vụn vặt lọt qua lớp ngói xanh, chiếu xuống hành lang yên ắng không một tiếng người.
Lâm Tiện đứng giữa sảnh, dáng người mảnh khảnh dịu dàng, trên mặt mang theo vài phần ngượng ngùng và lúng túng vừa đủ. Thấy Trần Nghiêu đi tới đối diện, cô nhẹ nhàng cất lời hỏi, giọng điệu ôn hòa, khiêm nhường: “Tôi tới đột ngột như vậy liệu có ảnh hưởng đến công việc của anh Chu không?”
Người trước nay luôn trầm tĩnh như Trần Nghiêu, sau khi nghe thấy tiếng “anh Chu” của cô bước chân suýt nữa bước hụt. May mà anh ấy kịp thời lấy lại bình tĩnh nên mới không bị mất phong thái trước mặt cô.
Lúc cất lời lại, giọng điệu của anh đã khôi phục sự ôn hòa và đúng mực, “Cô Lâm không cần lo lắng, hội trưởng biết hôm nay cô đến nên cố ý dặn tôi ra ngoài sảnh đợi để dẫn cô qua đó.”
Trong lòng thầm nghĩ –
Trong hiệp hội khi nhắc đến Chu Chi Ngật, mọi người đều gọi anh là hội trưởng một cách quy củ, chưa từng nghe ai gọi anh là “anh Chu”, cũng không biết cô gái này không hiểu quy tắc hay đang cố ý nữa, nhưng cô dám gọi như vậy chắc có vài phần là do hội trưởng ngầm cho phép.
Lại nhớ đến hôm qua trước khi đi thực hiện nhiệm vụ, Thẩm Bạch không quên tám với anh ấy một câu – hội trưởng của chúng ta biết đưa khăn giấy cho con gái nhà người ta lau nước mắt rồi, anh biết không, khi đó mí mắt tôi còn giật giật!
Lẽ nào anh không suýt nữa vấp té sao?
Lại nhớ đến hai mươi phút trước, Chu Chi Ngật nói với anh ấy, Lâm Tiện muốn đến Văn Thù Phường, cậu ra ngoài đón một chút.
Trần Nghiêu kinh ngạc, “Anh muốn gặp cô ấy, bây giờ sao?”
“Bây giờ.”
—-
Trần Nghiêu nghiêng người dẫn đường, Lâm Tiện ngoan ngoãn bám theo.
Anh ấy đưa Lâm Tiện đến sảnh trong của Văn Thù Phường, là nơi Lâm Tiện và Chu Chi Ngật nói chuyện trước đó. Nhưng Trần Nghiêu không dừng lại, cũng không bảo cô chờ ở đây mà tiếp tục dẫn cô bước vào sân sau.
Xuyên qua nhiều đoạn hành lang gấp khúc lát đá xanh, từ đoạn đường này bắt đầu không mở cửa với bên ngoài, là con đường đi vào khu vực dành riêng cho nội bộ hiệp hội tại Văn Thù Phường, cách ly hoàn toàn với sự nhộn nhịp, náo nhiệt của người dạo chợ bên ngoài.
Mặt đường đá xanh bị dấu chân năm tháng mài mòn đến mức bóng nhẵn, mái hiên ngói xanh sẫm xếp chồng lên hai bên tường cao, dưới mái hiên treo tấm thẻ bài bằng gỗ mộc mạc trầm sắc, không có chữ cũng không có hoa văn khác, nhưng lại là dấu hiệu cấm vào được cả hiệp hội mặc nhận.
Một bên hành lang trồng từng vạt trúc thân hình mảnh mai, cành lá thưa thớt rủ thấp, sàng lọc bớt ánh mặt trời rời rạc, chiếu lên lối đi những vệt sáng tối lốm đốm, tĩnh mịch và thanh ưu.
Con đường ngoằn ngoèo sâu hun hút, qua mỗi cánh cổng lại là một khung cảnh khác nhau. Càng đi vào trong càng rời xa hơi thở đời sống nhã nhặn nơi tiền sảnh, chỉ còn lại sự uy nghiêm, trầm lắng được lắng đọng hàng trăm năm của hiệp hội, nơi mà du khách bình thường và thợ thủ công bên ngoài cả đời cũng không thể bước chân vào.
Lâm Tiện thấy vậy liền bước nhanh hai bước bắt kịp nhịp độ của Trần Nghiêu, khẽ hỏi, “Anh Chu đang bận sao?”
Trần Nghiêu khẽ gật đầu, “Hội trưởng đang ở xưởng thủ công ở sân sau, xử lý vài việc khó nhằn.” Khựng lại một chút, anh vẫn không quên dặn dò một câu, “Cô Lâm, lát nữa gặp hội trưởng, cho dù có việc gì thì cứ đợi anh ấy bận xong rồi hãy nói.”
Nửa câu dặn dò phía sau xuất phát từ chút tâm tư của anh ấy.
Con người Chu Chi Ngật này lúc tỉnh táo thì công việc quan trọng hơn cả trời, đặc biệt là những việc có thể đưa vào xưởng thủ công sân sau của Văn Thù Phường. Tuy hiếm hoi lắm Chu Chi Ngật mới đồng ý cho cô gái này vào xưởng thủ công, nhưng anh ấy cũng sợ cô gái nhỏ không biết nhìn sắc mặt, ngộ nhỡ làm Chu Chi Ngật phật ý thì hỏng bét.
Lâm Tiện khẽ gật đầu, giọng nói mềm mại đáp một chữ “Được”.
Trần Nghiêu nghe mà lòng êm ái như được tắm trong gió xuân.
Xưởng thủ công ở sân sau rộng rãi thoáng đãng, cửa sổ gỗ mở rộng, ánh trời trút xuống, rọi lên chiếc bàn làm việc bằng gỗ sồi bằng phẳng.
Trong phòng thoang thoảng hương cam chanh, quyện lẫn mùi vị thanh mát đặc trưng của bạc chín, nhưng lại vì cảnh tượng trong sân mà nhuốm vài phần lạnh lẽo.
Lâm Tiện bước vào sân sau trùng hợp nhìn thấy cảnh này.
Có một người đàn ông đang quỳ hai gối trên mặt đất, bên dưới không phải gạch đá xanh, mà là gạch bạc nguyên chất chà nhám.
Anh ta giơ hai tay nằm ngang, lòng bàn tay nâng vững vàng một cây thước bằng bạc, cánh tay lơ lửng. không dám rung rinh dù chỉ một li, phần lưng thẳng lên cứng đờ, trên trán rịn đầy mồ hôi hột lạnh ngắt, toàn thân không khống chế được mà run rẩy nhẹ.
Thấy sự hoang mang trong ánh mắt cô, Trần Nghiêu thấp giọng giải thích, “Anh ta là thợ kim hoàn của hiệp hội, nhận đơn hàng chén tơ bạc. Vốn dĩ phải dùng bạc nguyên chất độ tinh khiết cao để chế tác, nhưng anh ta bị lòng tham làm mờ mắt, cậy vào tay nghề thành thạo nên đã lén pha thêm ba phần bột đồng trắng và thiếc. Bình thường thợ kim hoàn hay máy móc kiểm tra nhiều lần cũng khó phát hiện sơ hở, nhưng lại bị hội trưởng nhìn ra.”
“….Nhìn ra?” Lâm Tiện khó hiểu, “Nhìn?”
“Đúng vậy.” Trần Nghiêu gậy đầu, “Đúng như nghĩa đen.”
Lâm Khương lộ vẻ kinh ngạc: “Không phải ngay cả máy móc cũng không đo ra sao? Làm sao mà nhìn ra được chứ?”
Trần Nghiêu cười hỏi, “Cô thấy anh ấy dựa vào đâu mà ngồi lên được vị trí hội trưởng? Anh ấy rất rất giỏi, đặc biệt là bản lĩnh nhận biết đồ bạc, liếc mắt là có thể phân biệt được sự bất thường ở đường vân, là biết ngay có gì khuất tất hay không.”
Nghề tơ hoa bạc ở Xuyên Tây được truyền thừa mấy trăm năm, đời nào cũng có những người có năng lực, nhưng duy nhất Chu Chi Ngật là thiên tài không có gì để bàn cãi trong vòng trăm năm trở lại đây của hiệp hội.
Từ khi còn trẻ mới vào nghề anh đã tinh thông tất cả tuyệt kỹ cổ pháp như ngắt tơ, điền phẳng, tạo hình vô cốt, khảm bạc trạm khắc, kĩ năng nền tảng mà người khác phải khổ luyện chục năm mới thành, với anh chỉ vài năm đã thông thạo, hơn nữa còn điều chỉnh những thiếu sót của cổ pháp, bổ sung, khôi phục lại hoa văn đã thất truyền.
Tuyệt nhất là năng lực nhận biết đồ bạc và giám định cổ vật của anh.
“Mắt nhìn hoa văn, tay sờ nóng lạnh, gõ nhẹ nghe tiếng là có thể nhận biết được độ thuần khiết của nguyên liệu bạc, độ lửa khi rèn, độ thưa dày của các lớp tơ, cho dù là đồ vật chỉ pha một chút tạp chất, bớt một phần công đoạn cũng không thoát được khỏi mắt anh ấy.” Khi Trần Nghiêu nói những điều này với Lâm Tiện, vẻ mặt vô cùng kiêu ngạo.
Năm đó Chu Chi Ngật tuổi trẻ nhất, kinh nghiệm ít nhất, lại trong trường hợp hội trưởng tiền nhiệm vướng đầy nghi vấn, anh vẫn áp đảo hàng loạt bậc trưởng bối để ngồi lên vị trí hội trưởng, dựa vào năng lực chuyên môn thực sự.
Khi ấy, mấy vị thợ kim hoàn lão làng trong hiệp hội tự cậy vào thâm niên cao, mỉa mai anh tuổi còn trẻ khó gánh vác trọng trách, đã cùng nhau đứng lên đề nghị so tài tay nghề và giám định cổ vật.
Kết quả là một loạt thợ kim hoàn già đều nhìn nhầm những mảnh bạc cổ truyền đời, không phân biệt được đồ cổ bị trộn lẫn đồ giả, bị anh vạch trần từng cái một, rồi tự tay tu sửa, phục chế, đồ bỏ đi được hồi sinh, tuyệt kỹ tái xuất.
Trong trận chiến đó, thực lực của một mình anh áp đảo tất cả tiền bối trong hiệp hội, bằng kỹ nghệ tuyệt đối tinh xảo, anh đã thuyết phục hoàn toàn giới thợ bạc vùng Xuyên Tây, từ đó về sau không còn ai dám nghi ngờ thêm nữa.
Trần Nghiêu nói, “Tay nghề của hội trưởng là quy tắc cứng rắn nhất của hiệp hội, cũng là chỗ dựa vững trãi nhất. Những năm qua, trong hiệp hội hễ có mảnh bạc không ai sửa được, nghi án không ai phán đoán được hay bế tắc kỹ thuật không ai giải nổi, cuối cùng đều do anh đích thân thu dọn tàn cuộc, giống như màn giải cứu hôm nay vậy.”
Ánh mắt Lâm Tiện hơi trầm xuống, khẽ gật đầu, ánh nhìn trong trẻo không chủ ý nhìn về bóng dáng thẳng tắp, rắn rỏi ở giữa xưởng thủ công.
Chu Chi Ngật khi vùi mình vào công việc không mặc bộ âu phục chỉn chu, chỉnh tề, mà khoác trên mình chiếc áo ngắn tay bằng vải cotton màu xám đậm, chất vải vì giặt nhiều lần nên đã mềm oặt và hơi cũ, viền áo còn mang dấu vết mài mòn, bớt đi vài phần kiêu ngạo, lạnh lùng của người nắm quyền, nhiều thêm sự phong trần, mộc mạc và đời thường của người thợ thủ công.
Cổ áo tùy ý thả lỏng hai cúc, tay áo thì xắn lên tận khuỷu, để lộ cẳng tay với những đường cơ bắp săn chắc, mượt mà.
Bàn tay anh cực kỳ có lực, các khớp ngón tay thon dài rõ ràng. Phần đệm ngón tay và hổ khẩu phủ một lớp chai dầy dặn, mài giũa qua năm tháng. Đó là dấu vết riêng biệt để lại sau bao năm cầm búa rèn bạc, khảm chỉ mài đồ, vừa thô ráp lại đầy sức mạnh.
Không có phụ kiện tinh xảo, cũng chẳng có dáng vẻ chỉn chu gò bó. Trút bỏ mọi trang sức phù phiếm, nơi anh chỉ còn lại sự lắng đọng của hơi thở đời thường cùng nét chuyên nghiệp tới tận cùng.
Rõ ràng mang theo vẻ thô mộc đặc trưng của người thợ thủ công nơi phố thị, nhưng dáng vẻ cúi người tập trung làm việc lại càng thêm phần trầm ổn, kiêu hãnh và cực kỳ thu hút.
Hết chương 9.
Chia sẻ cùng tôi